Thursday, December 5, 2013

Các mốc chính lịch sử Cà phê





Các mốc chính lịch sử Cà phê



850: Một chàng chăn dê tò mò đã khám phá ra café là một thức uống tuyệt vời.

Giữa những năm 800: Những người Hồi Giáo ở Ađen được ghi nhận là những người uống café đầu tiên.



Thế kỉ thứ 14 những người buôn nô lệ đã mang cà phê từ Ethiopia sang vùng Ả Rập.

1453 Thổ Nhĩ Kì ban hành luật lệ mới, cho phép một phụ nữ li dị chồng mình nếu không chịu đưa café cho cô ta.



Café trở nên phổ biến ở châu Âu, tuy bị cấm ở một vài nơi.
Vua Pope Clement VIII cấm việc uống café.

1511 Thủ tướng một nước Hồi giáo, Khair Beg, ra lệnh cấm café vì sợ nó gây những ý kiến phản đối do luật lệ mà ông ta đặt ra. Kết quả là ông đã bị sát hại bởi những người Sultan.
1517 cà phê được biết đến lần đầu tiên ở Constantinople (Istanbul ngày nay).
1554 quán cà phê đầu tiên ở châu Âu đã được mở ở đây bất chấp sự phản đối của nhà thờ.
1570 Cùng với thuốc lá, café lần đầu tiên xuất hiện tại Venice
Cuối thế kỉ 15: café ngày nay được sáng chế (người ta biết rang hạt cà phê lên và sử dụng nó làm đồ uống)



1600 Thông qua những nhà buôn người Ý, các nước phương Tây lần đầu tiên biết đến café
1645 quán cà phê đầu tiên của Ý được mở ở Venezia
1650 café được ưa thích cuồng nhiệt tại Ấn Độ
1652 ở London lần lượt xuất hiện các quán cà phê đầu tiên của Vương quốc Anh.
1656 Việc uống café và mở tiệm café bị cấm tại Thổ Nhĩ Kỳ
1659 ở Pháp những quán đầu tiên được khai trương.
1669 café trở nên phổ biến ở Châu Âu
1683 Wien cũng có quán cà phê đầu tiên (do một người Ba Lan thành lập)
1672 Tiệm café đầu tiên ở Pháp được mở cửa
1690 Người Hà Lan trở thành những người đầu tiên kinh doanh và gieo trồng café như một thương phẩm, tại Ceylon và Java
1668 café đã thế chỗ bia, trở thành thức uống bữa sáng được yêu thích nhất tại New York
1697 Thuyền trưởng John Smith giới thiệu café với thị trường Bắc Mỹ



1700 Người Hà Lan và Pháp đã tiến hành cuộc chinh phạt và chiếm đảo Java và Martinique làm thuôc địa, bắt đầu việc gieo trồng cà phê ở đây. Hấu hết cà phê mà chúng ta gieo trồng ngày nay là giống hạt Arabica có xuất xứ từ Êtiôpia qua Yemen.
1710 người ta đã đem cây cà phê về châu Âu và trồng thử trong các khu vườn sinh vật
1714 café xuất hiện chính thức tại Mỹ
1721 Tiệm café đầu tiên ở Beclin được khai trương
1732 Johann Sebastian Bach sáng tác ra bản Kanata café (Coffee Canata)
1773 Uống café được coi là “nghĩa vụ quốc gia” đối với mỗi công dân Mỹ

Cuối thế kỉ 18 cây cà phê đã được trồng ở khắp các xứ sở nhiệt đới



1822 Máy espresso đầu tiên được tạo ra tại Pháp
1825 café xuất hiện ở Haoai
1850 Một người Pháp theo đạo Thiên Chúa Giáo đã đưa cà phê du nhập vào Việt Nam
1865 James Mason phát minh ra máy pha café(percolator)
1887 café xuất hiện ở Indochina
1896 café được giới thiệu với người Úc



Đầu những năm 1900: Uống café vào bữa trưa trở thành một thời gian “bắt buộc” ở Đức
1901 Luigi Bezzera phát minh ra máy chiết tách hương vị của café
1901 café uống liền (instant coffee) được phát minh bởi một nhà hoá học người Mỹ gốc Nhật
1908 Melitta Benz phát minh ra phin pha café
1909 café uống liền được tung ra thị trường

1938 Nescafé (café sấy bằng phương pháp đông lạnh) được phát minh
1942 Trong chiến tranh thế giới thứ hai, lính Mỹ được phát khẩu phần gồm cả café uống liền hiệu Maxwell House
1971 Hãng café Starbuck mở đại lý đầu tiên tại Seattle

Theo: thienduongcafe tổng hợp



Uống cà phê - Bí kíp trường thọ


Uống cà phê - Bí kíp trường thọ
Uống quá nhiều cà phê thường được coi là gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe. Tuy nhiên, nghiên cứu gần đây của các nhà khoa học lại cho thấy việc uống cà phê thường xuyên có tác dụng kéo dài tuổi thọ, giảm tỉ lệ tử vong của bệnh tim, bệnh về đường hô hấp, đột quỵ, tiểu đường và nhiễm trùng.

Theo Daily Mail, các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu trên 400.000 người ở độ tuổi từ 50 đến 71, và đưa ra kết luận rằng càng uống nhiều cà phê, con người càng có khả năng chống lại nhiều loại bệnh tật, nhưng không có khả năng chống lại bệnh ung thư. Một nghiên cứu của các nhà khoa học Mĩ công bố trên Tạp chí Y học New England cũng khẳng định uống cà phê giúp sức khỏe tốt hơn.


Theo các nhà khoa học, uống 4 - 5 tách cà phê mỗi ngày là an toàn
và thậm chí tốt cho sức khỏe. Ảnh: WordPress

Các nhà nghiên cứu tại Viện Ung thư Quốc gia, thuộc Viện Y tế Quốc gia, Maryland cho rằng không thể khẳng cà phê giúp làm giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư, nhưng ít nhất, họ cũng đã tìm ra một liên kết.

Họ đã tiến hành nghiên cứu về chế độ ăn uống của 229.000 nam giới và 173.000 phụ nữ từ năm 1995 đến năm 2008. Người tham gia được phân loại theo số lượng cà phê họ uống khi bắt đầu tham gia nghiên cứu thành các nhóm uống 6 ly cà phê mỗi ngày hoặc nhiều hơn và nhóm không uống cà phê.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 52.000 ca tử vong trong khoảng thời gian từ năm 1995-2008, và các trường hợp tử vong rơi vào những người ít dùng cà phê. Điều này có nghĩa là, những người uống một lượng lớn cà phê có nguy cơ tử vong thấp hơn. Theo các nhà khoa học, thành phần caffeine chưa chắc đã có lợi cho sức khỏe nhưng chắc chắn, chất chống oxy hóa và magiê có trong cà phê đã tác động trực tiếp tới người uống.

Tiến sĩ Euan Paul, giám đốc điều hành của Hiệp hội Café Anh, nhận định nghiên cứu quan trọng này cung cấp thêm bằng chứng về việc uống từ 4 - 5 tách cà phê mỗi ngày là an toàn và thậm chí tốt cho sức khỏe.

Tuy nhiên, cũng có nhiều người cho rằng cần phải tiến hành thêm các nghiên cứu để làm rõ mối quan hệ giữa việc uống cà phê và tỉ lệ tử vong (với các nguyên nhân tử vong cụ thể). Phụ nữ mang thai được khuyến cáo nên uống 200mg cà phê mỗi ngày, phù hợp với hướng dẫn của bác sĩ.

Hà Nguyễn - Theo Vietnamnet

Wednesday, December 4, 2013

HISTORY OF INSTANT COFFEE


A Timeline of the Discovery and Advances in Instant (Soluble) Coffee

1771 - The first “instant coffee” is made in Britain. Referred to as a “coffee compound” it was granted a patent by the British government.

1853 – The first American instant coffee product is created. During the Civil War experimental “cakes” of instant coffee are given to soldiers.

1901 – A Japanese man named Dr. Sartori Kato, who is a chemist in Chicago, Illinois, develops the first successful method of creating a stable soluble coffee powder, or instant coffee – just add water! Kato initially develops the technique  to make instant tea, and then applies it to coffee. In 1903 he gets a patent for the method.

1909 - For the first time, instant coffee is mass produced. This occurs in America and is done by an American inventor who immigrated from Belgium.

His name is George Constant Louis Washington (1871-1946), and he makes the product after seeing, when he was in Guatemala, coffee powder that had deposited on the spout of a silver coffee pot.

Though Washington receives a patent for what will be come the first mass-produced instant coffee, many considered the taste quite unsatisfactory. Washington names it Red E Coffee and begins marketing it in 1909.

An American soldier writes this letter from the trenches: “I am very happy despite the rats, the rain, the mud, the draughts [sic], the roar of the cannon and the scream of shells. It takes only a minute to light my little oil heater and make some George Washington Coffee…Every night I offer up a special petition to the health and well-being of Mr. Washington.”

1914-1918 – Instant coffee becomes widely popular, particularly with the U.S. military as they buy all available supplies. During World War I the soldiers call it a “cup of George.” When the troops return home they continue to desire the product.

1930 – The Brazilian Coffee Institute asks the chairman of the Nestles company to create a flavorful soluble coffee product (e.g., “instant coffee”) to help Brazil deal with its abundant coffee surplus, and also possibly increase overall coffee sales. Some liquid and crystallized coffee products are available at this time but their flavors are considered very inferior. Nestle begins several years of intense research to solve the problems.

1937 – Nestle scientist Max Morgenthaler develops a new instant coffee making technique at Nestle’s Switzerland research center laboratory. The new product is named Nescafe, which comes from combining Nestle and cafe.

1938, April 1 - Nestle begins selling Nescafe in Switzerland, and also in 1938 they begin making it at their London factory.

Their new instant coffee process involves drying equal amounts of coffee extract and soluble carbohydrates, and the technique produces a better tasting instant coffee which quickly becomes a popular product. The U.S. military becomes a major buyer.

1939-1945 – During World War II instant coffee is very popular with the soldiers. Nescafe and other brands of instant coffee supply large quantities to a growing market. During one year of the war the U.S. military buys more than one million cases of Nescafe – their entire annual output of Nestle’s U.S. plant.

1943 - George Constant Washington’s company is sold to American Home Products shortly before Washington passes away. The George Washington coffee brand continues until 1961, but George Washington Seasoning & Broth is still for sale today.

1950s - Coffee is the favorite beverage of teenagers listening to rock and roll at coffeehouses. Nestle introduces their new Blend 37 in 1955, providing a “continental taste.”

1954 – Nescafe develops a method to produce instant coffee using only coffee, having previously added carbohydrates for stabilization. The following year they introduce Nescafe Blend 37.

1960s - A better looking instant coffee is developed using a process called agglomeration, which involves steaming the instant coffee particles to get them to stick together in clumps. Unfortunately the second heating/drying cycle further hinders the coffee’s flavor.

As the method improves, freeze-drying becomes the preferred method of making instant coffee.

By espressocoffeeguide.com

Tổng quan sự phát triển cây cafe ở Việt Nam


Tổng quan sự phát triển cây cafe ở Việt Nam
 
Cây cà phê đầu tiên được đưa vào Việt nam từ năm 1870, mãi đến đầu thế kỷ 20 mới được phát triển trồng ở một số đồn điền của người Pháp. Năm 1930 ở Việt nam có 5.900 ha.

Trong thời kỳ những năm 1960-1970, cây cà phê được phát triển ở một số nông trường quốc doanh ở các tỉnh miền Bắc, khi cao nhất (1964-1966) đã đạt tới 13.000 ha song không bền vững do sâu bệnh ở cà phê Arabica và do các yếu tố tự nhiên không phù hợp với cà phê Robusta nên một số lớn diện tích cà phê phải thanh lý.

Cho đến năm 1975, đất nước thống nhất, diện tích cà phê của cả nước có khoảng trên 13.000 ha, cho sản lượng 6.000 tấn.

Sau 1975, cà phê ở Việt Nam được phát triển mạnh tại các tỉnh Tây nguyên nhờ có vốn từ các Hiệp định hợp tác liên Chính phủ với các nước: Liên xô cũ, CHDC Đức, Bungary, Tiệp khắc và Ba lan, đến năm 1990 đã có 119.300 ha. Trên cơ sở này, từ 1986 phong trào trồng cà phê phát triển mạnh trong nhân dân, đến nay đã có trên 390.000 ha, đạt sản lượng gần 700.000 tấn.

Ngành cà phê nước ta đã có những bước phát triển nhanh vượt bậc. Chỉ trong vòng 15-20 năm trở lại đây chúng ta đã đưa sản lượng cà phê cả nước tăng lên hàng trăm lần. Thành tựu đó được ngành cà phê thế giới ca ngợi và chúng ta cũng đã từng tự hào vì nó. Tuy nhiên trong vài năm lại đây do kích thích mạnh mẽ của giá cả thị trường, cà phê đã từng mang lại cho các nhà sản xuất lợi nhuận siêu ngạch. Tình hình phát triển cà phê đã ra khỏi tầm kiểm soát của ngành cũng như của Nhà nước, và chính vì thế mà sự tăng trưởng nhanh chóng với mức độ lớn đã có tác động quan trọng trong việc góp phần đẩy ngành cà phê thế giới đến thời kỳ khủng hoảng thừa. Giá cà phê giảm liên tục đến mức thấp kỷ lục 30 năm lại đây. Người ta hô hào trữ lại cà phê không bán, người ta chủ trương huỷ bỏ hàng loạt cà phê chất lượng kém... Thời đại hoàng kim của ngành cà phê đã qua đi, ngành cà phê bước vào thời kỳ ảm đạm và có phần hoảng loạn, đài phát thanh và báo chí thường xuyên đưa tin nông dân chặt phá cà phê ở nơi này, nơi khác...

Có thể nói đây là tình hình chung của ngành cà phê toàn cầu và nó tác động lớn đến ngành cà phê nước ta, một ngành cà phê đứng thứ nhì thế giới với quy mô sản xuất không ngừng được mở rộng. Tình hình thị trường thế giới tập trung vào những thay đổi then chốt của nền kinh tế cà phê thế giới, cán cân cung cầu và vận động của giá cả thị trường.

Ngoài cà phê Robusta hiện đang chiếm gần hết diện tích và sản lượng ra, Việt Nam đang thực hiện một chương trình mở rộng diện tích cà phê arabica, trong đó có cả một chương trình chuyển dịch cơ cấu giống đưa một số diện tích cà phê từ Robusta sang Arabica.
Theo: VICOFA

Quá trình hình thành và phát triển cà phê Buôn Ma thuột






Cà phê Buôn Ma Thuột - Yếu tố lịch sử

Cây cà phê du nhập vào việt nam khá sớm (từ năm 1857) thông qua một số linh mục thừa sai người Pháp. Đầu tiên là giống cà phê Chè (coffee arabica) được trồng thử nghiệm tại các nhà thờ Thiên Chúa giáo ở một số tỉnh phía bắc sau đó mới phát triển dần vào Nam Tây Nguyên và đông nam bộ. Nhưng cho đến nay, cả về quy mô và danh tiếng, không nơi nào ở Việt Nam có cà phê nổi tiếng trong và ngoài nước, đồng thời gắn với một vùng địa danh mang nhiều huyền thoại như cà phê Buôn Ma Thuột.


Thành phố Buôn Ma Thuột

Với lợi thế là một vùng đất đỏ bazan màu mỡ, có những ưu thế đặc trưng về điều kiện tự nhiên, cao nguyên Buôn Ma Thuột không những là nơi cây cà phê sinh trưởng tốt, mà còn tạo nên hạt cà phê chất lượng cao, hương vị khác biệt so với nhiều vùng đất khác. Chính sự khác biệt đó là yếu tố quyết định lợi thế cạnh tranh của cà phê Buôn Ma Thuột và nơi đây đã sớm trở thành "tâm điểm" của ngành cà phê toàn vùng Tây Nguyên nói riêng, Việt Nam nói chung, đặc biệt là đối với cà phê vối (coffee robusta).

Tuy nhiên, bên cạnh những lợi thế về tự nhiên, cũng cần điểm lại yếu tố lịch sử của ngành cà phê Đắk Lắk, bởi đây cũng là nhân tố góp phần làm nên danh tiếng của cà phê Buôn Ma Thuột. Ngay từ lúc thăm dò để chuẩn bị xâm chiếm Tây Nguyên, các nhà thám hiểm và truyền giáo Pháp đã sớm nhận ra vùng đất này không chỉ có vị trí địa lý chiến lược ở miền Nam Đông Dương, mà còn có những tài nguyên hết sức quý giá có thể khai thác phục vụ chính quốc, trước hết là đất và rừng. Đặc biệt nơi đây có loại đất mà các nhà thám hiểm như Yersin, giám mục Cassaigne, linh mục Pierre Dourisboure...đều nhận định là loại đất tốt nhất thế giới, rất thích hợp cho việc mở các đồn điền trồng cây công nghiệp.



Vì vậy, để độc chiếm Tây Nguyên về chính trị và kinh tế, năm 1893 Khâm sứ Trung kỳ Bu-Lô-Sơ (Boulloche) ra lệnh đặt vùng đất này "dưới sự bảo hộ đặc biệt" của Pháp, nhằm mục tiêu nắm toàn bộ vấn đề an ninh, tiến tới khai thác tài nguyên đất đai phục vụ chính quốc. Ngày 02-11-1901, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định về "quyền bảo hộ và khai thác Tây Nguyên", mở đường cho tư bản pháp vào lập đồn điền. Ngay sau đó đã có 8 trong số 12 đơn xin phép đã được công sứ Đắk Lắk chuẩn y trình lên Khâm sứ Trung kỳ duyệt đợt đầu, chủ yếu là xin khai thác khu vực lân cận phía đông thị xã Buôn Ma Thuột. Tuy nhiên, do những điều kiện cụ thể (thiếu phương tiện và nhân công) nên ở Buôn Ma Thuột lúc bấy giờ chưa hình thành những đồn điền lớn, chủ yếu là lập một số nông trại quy mô vài chục mẫu để trồng thử nghiệm cây công nghiệp; trong đó trẩu và cà phê chè (coffee arabica) là những loại cây được đưa vào trồng thử nghiệm đầu tiên tại Buôn Ma Thuột, trước thời điểm Toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập đơn vị hành chính tỉnh Đắk Lắk, vào ngày 22-11-1904.

Đến những năm 1912-1914, cây cà phê chè mới thực sự ghi dấu ấn tại Buôn Ma Thuột. Trong khoảng thời gian này hai công ty nông nghiệp lớn nhất Đắk Lắk đã được chính quyền pháp cho phép thành lập, đó là công ty Cao Nguyên Đông Dương (Compagnie Des Hauts Plateaux Indochinois - C.H.P.I.) và công ty nông nghiệp An Nam (Compagnie Agricole Dasie - C.A.D.A.). Hai công ty này bao chiếm tới 30.000 ha đất, trải dài trên một vùng đất bazan rộng lớn dọc hai bên quốc lộ 21 từ Buôn Ma Thuột đến km34 đường đi Nha Trang, với tổng số vốn đầu tư ban đầu là 66.000.000 phơ-răng; trong đó diện tích cà phê trồng tập trung là 260 ha (C.H.P.I. 135 ha, C.A.D.A. 125 ha).

Lượng cà phê thu được lúc này tuy còn rất ít nhưng được đưa về chính quốc chế biến, tiêu thụ và đem lại hiệu ứng không ngờ. Cây cà phê Buôn Ma Thuột. trồng trên vùng đất tốt, khí hậu thích hợp, ở độ cao từ 400-500 mét đã cho sản phẩm tuyệt vời ngoài sự mong đợi của các công ty Pháp. Các nhà rang xay tại Pháp lúc bấy giờ đánh giá chất lượng và hương vị tự nhiên của cà phê Buôn Ma Thuột thơm đặc trưng và thể chất đậm đà hơn hẳn cà phê bờ biển Ngà vốn đã nổi tiếng khắp Châu Âu. Vì thế, nhiều nhà Tư bản và chủ ngân hàng của Pháp quyết định đầu tư mở đồn điền ở Buôn Ma Thuột.

Ngày 12-2-1925, để tiếp tục hợp thức hoá việc khai thác đất đai ở Tây Nguyên, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định về chế độ khai thác kinh tế ở Tây Nguyên, trọng tâm của nghị định này là định ra các nhượng địa (thực chất cướp không đất của người bản xứ) để cho tư bản Pháp vào đầu tư. Ngay sau đó đã có thêm 26 đồn điền được thành lập ở khu vực Buôn Ma Thuột, với tổng diện tích dự kiến khai thác lên đến 200.000 ha; bao gồm:

- Trên quốc lộ 21 có đồn điền Ô-giê (Auger) ở km47, diện tích 136 ha; đồn điền Mec-cu-ry (Mercurio) km21, diện tích 222 ha; đồn điền Vơ-rec-ken (Vererkene) km42, diện tích 82 ha; đồn điền Pa-đô-va-ni (Padovani) km15, diện tích 160 ha; đồn điền Hê-ri-ông (Herion) km35, diện tích 35 ha; đồn điền Ai-ten (Aitain) km18, diện tích 22 ha; đồn điền Ha-ghen (Hagen) km16, diện tích 89 ha; đồn điền Săng-tê (Santé) km23, diện tích 39 ha.

- Phía nam Buôn Ma Thuột có đồn điền Mô-rít (Morit) 10 ha và đồn điền Mai-giô (Maillo), diện tích 20 ha.

- Trên hướng Mêwan có đồn điền Ac-pê-ra (Acpera), diện tích 20 ha; đồn điền Société Civile de Banmethuot km7, diện tích 278 ha; sau này có thêm đồn điền Société Du Domaine De Chu Sue km9, diện tích 283 ha; đồn điền Société Agricole Deatul, km16 diện tích 240 ha.

+ Trên hướng đi lạc thiện có đồn điền Cô-rô-nen (Coronen) diện tích 73 ha; đồn điền Bơ-rô-giơ (Broger) diện tích 28 ha; đồn điền Ggiô-đôn (Godon) 36 ha.

- Khu vực buôn hồ có đồn điền Rơ- nê rô-si (Rene Rossi), diện tích 612 ha.

Tại các đồn điền này, cây cà phê đã được giới chủ Pháp đầu tư trồng ngày càng nhiều; quy mô lớn hơn cả chè, cao su, cây ăn trái và nhiều loại cây trồng khác. Ngoài ra, có một người dân tộc Êđê (là thành viên của Hội đồng kinh tế An Nam) tự mình khai phá 625 ha đất bazan và trồng thành công 125 ha cà phê. (sơ đồ các đồn điền xem phần phụ lục )

Đến năm 1931, tổng diện tích cà phê ở Đắk Lắk (tập trung chủ yếu ở khu vực Buôn Ma Thuột) đã lên đến 2.130 ha (riêng đồn điền C.A.D.A. là 1.000 ha) đứng thứ tư trong cả nước; trong đó 51% diện tích là cà phê chè, 33% cà phê vối, còn lại là cà phê mít. Việc trồng, chăm sóc cà phê trong các đồn điền ngay từ những năm này đã mang dấu ấn của lối canh tác công nghiệp và đạt trình độ tổ chức quản lý cũng như đầu tư thâm canh khá cao. trong tài liệu "địa chí tỉnh Đắk Lắk" viết năm 1930, ấn hành năm 1931 [2] tác giả người pháp Monfleur đã mô tả hoạt động của một số đồn điền như sau:

"Công ty nông nghiệp An Nam có một nhượng địa rộng 8.000 mẫu tây, khai thác được 1.800 mẫu, trồng cà phê 1.000 mẫu, chè xanh 800 mẫu, nằm ở cây số 24 đến cây số 34 đường An Nam... có những cơ xưởng lớn sửa chữa máy móc, nhà để xe, kho tàng, nhà ở của giám đốc, chủ đồn điền, trưởng phòng nhân sự, tất cả đều rộng rãi, an toàn và có điện thắp sáng. Nơi ăn ở của công nhân bản xứ cũng được chăm sóc tốt, tập trung trong hai ngôi làng lớn là Ea Knuêk và Ea Yông; mỗi làng có chợ, trạm xá, nơi cung cấp nước đảm bảo sức khỏe cho công nhân... Các đồn điền đều có triển vọng tốt đẹp, cây cà phê trồng và chăm sóc tốt, cao đều 1,4 mét, các đồi chè xanh gốc Nam Dương trồng vào tháng giêng năm 1921 vượt quá 2 mét".

Một vài tư liệu mô tả trên cho thấy việc trồng cà phê lúc này đã được giới chủ Pháp rất chú trọng và có triển vọng trở thành một ngành trồng trọt chủ lực trên vùng đất Buôn Ma Thuột. Với các điều kiện tự nhiên phù hợp, được trồng và chăm sóc tốt nên chất lượng cà phê ngày càng tăng lên, kích thước hạt lớn, chất lượng nước đậm đà rất được ưa chuộng ở pháp và một số nước Châu Âu. Ngoài hương vị thơm ngon đặc trưng tự nhiên, thời kỳ này cà phê Buôn Ma Thuột còn nổi danh với một loại cà phê mang tính huyền thoại là "cà phê chồn". Do đặc điểm để cà phê chín mọng gần hết mới thu hoạch, nên một loại chồn màu xám có tên địa phương là Mija thường ăn những trái cà phê ngon nhất, sau đó thải ra phần nhân đã được hấp thụ các chất trong cơ thể nó; người ta lấy về rửa sạch, phơi khô,xat vỏ thóc, rang xay, tạo nên một loại cà phê danh bất hư truyền ít người được thưởng thức.



Tuy nhiên, thời kỳ này do bệnh gỉ sắt phát triển mạnh trên cây cà phê chè, làm giảm đáng kể năng suất, nên các chủ đồn điền Pháp lần lượt chuyển sang trồng loại cà phê vối (cà phê chè chỉ còn khoảng 1% diện tích), năng suất cao, chất lượng thơm ngon hơn. Chính vì vậy cà phê vối robusta, được chọn lọc qua nhiều thập kỷ, đã trở thành cây cà phê chủ lực ở vùng đất Buôn Ma Thuột bởi khả năng thích nghi với điều kiện tự nhiên, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao của nó. Đến năm 1959 đã có 49 đồn điền trồng cà phê ở khu vực Buôn Ma Thuột (bao gồm cả Buôn Hồ, Phước An) với tổng diện tích trên 5.200 ha; trong đó riêng đồn điền C.H.P.I. là 576 ha. Ngoài các đồn điền cũ do Pháp kiều quản lý, cũng đã dần xuất hiện một số đồn điền trồng cà phê do người dân tộc bản xứ và người Kinh khai phá, làm chủ. Đến năm 1975, tổng diện tích cà phê ở Đắk Lắk đã tăng lên 8.600 ha, cho sản lượng hàng năm trên 11.000 tấn, hầu hết là cà phê vối robusta. trong đó, các đồn điền cà phê danh tiếng như công ty Cao Nguyên Đông Dương (C.H.P.I), An-đơ-rây guy-be (AndreiG uibert), Vinacafé, Société agricole d eatul, Société Du Somaine De Chu Sue, Guy-be Ba-to-li (Guibert Batolli), Ô-tơ-roa-xơ (Aux Trois Soeurs) chiếm giữ đến 68% diện tích; các đồn điền nhỏ chiếm 18% diện tích; 75 trang trại hộ cá thể chiếm 14% diện tích cà phê toàn tỉnh. Tuy xuất khẩu chưa nhiều, nhưng thông qua con đường du lịch, hạt cà phê Buôn Ma Thuột đã đến được nhiều quốc gia trên thế giới và nhiều người thực sự ngưỡng mộ chất lượng và hương vị thơm ngon của nó [3].

Sau ngày miền nam giải phóng, tỉnh Đắk Lắk đã sớm quan tâm phát triển ngành sản xuất cà phê. ngày 12-11-1975, Ủy Ban Nhân dân cách mạng tỉnh Đắk Lắk ra quyết định trưng thu tài sản, đất đai của các đồn điền; đồng thời vận động 75 hộ cá thể hiến lại 1.196 ha cà phê; trên cơ sở đó thành lập các nông trường cà phê như: Thắng lợi, Ea Hồ, 10-3, Đức Lập do công ty quốc doanh nông nghiệp tỉnh trực tiếp quản lý. Đồng thời một loạt các nông trường cà phê quốc doanh thuộc Trung Ương quản lý cũng ra đời trên địa bàn cùng với sự hợp tác của một số quốc gia trong khối Đông Âu (cũ) như Đức, Tiệp Khắc, Liên Xô (cũ) đã đến hợp tác để khai thác vùng cà phê với lợi thế về đặc trưng về tự nhiên và danh tiếng vốn có của nó.

Từ sau năm 1986, nhờ chính sách đổi mới kinh tế của đảng và nhà nước, tỉnh Đắk Lắk chủ trương đầu tư trồng mới, thâm canh rộng rãi trong nhân dân, từ đó bắt đầu hình thành các vùng tập trung chuyên canh cà phê lớn ở thành phố Buôn Ma Thuột và các huyện Krông Păc, Cư mgar, Ea hleo, Đăk mil, Krông ana, Krông Búk, Krông Năng và Ea kar. các vùng chuyên canh này chiếm 86% diện tích và 89% sản lượng cà phê toàn tỉnh.

Với bề dày về truyền thống và tích lũy kinh nghiệm hơn 70 năm của ngưòi dân trồng cà phê nơi đây, cà phê Buôn Ma Thuột đã hội đủ các yếu tố bền vững và ngày càng khẳng định vị trí vững chắc trong nền sản xuất hàng hoá của tỉnh Đắk Lắk ( giá trị sản phẩm cà phê hàng năm chiếm 35% GDP và 85% tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh). sản phẩm cà phê vối robusta đã trở thành biểu tượng và là niềm tự hào của tỉnh Đắk Lắk nói chung, vùng địa danh Buôn Ma Thuột nói riêng trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.

Theo: lehoicaphe.vn


Le Procope và bước chân đầu tiên của cà phê vào Pháp


Le Procope và bước chân đầu tiên của cà phê vào Pháp
 
Lịch sử kể lại năm 1669, sứ giả Soliman Aga của quốc vương Sultan de Constantinople trong chuyến công du đến Pháp đã mời vua Louis XIV và các quan khách thưởng thức một thứ đồ uống, đen đặc, đắng và có mùi. Người ta nói rằng có một người phụ nữ trong triều đình không thích vị đắng của thứ cà phê Thổ Nhĩ Kì đó và đã kín đáo cho một chút đường vào cốc. Sứ giả nhận thấy hành động này và rồi những ngày tiếp theo, cà phê được phục vụ đi kèm với một chút đường và mật ong. Sau chuyến viếng thăm ngoại giao của sứ giả Soliman Aga, năm 1686 quán cà phê đầu tiên được mở tại Paris : quán cà phê nổi tiếng Le Procope.


Nếu có dịp đến thủ đô Paris hoa lệ của Cộng hòa Pháp, bạn đừng quên một lần ghé thăm quán cà phê – nhà hàng lâu đời nhất này. Hướng từ ga tàu điện ngầm Odéon, thả bộ thêm vài bước theo phố cổ Ancienne-Comédie của quận 6, bạn dễ dàng tìm thấy căn nhà hai tầng đề Le Procope tọa lạc ở số 13 của con đường.

Khi bạn đến nơi, người phục vụ sẽ niềm nở ra chào đón dẫn bạn bước vào một không gian mỹ lệ cổ điển với màu đỏ trang nhã của tường; màu vàng hoàng gia của trần nhà và rèm cửa; bệ lò sưởi, viền gương, viền tranh. Giá đỡ nến đều được dát vàng lung linh dưới ánh sáng của các chùm đèn pha lê; thảm trải sàn êm ái họa tiết hoa lá trên nền màu lam đậm. Những chiếc ghế gỗ cầu kì, những bình hoa nhỏ đặt lên khăn trải bàn trắng muốt. Nhìn ngắm kĩ, bạn sẽ bắt gặp những mảng giấy dán tường xưa cũ còn sót lại từ năm 1830 in hình ảnh của Cách mạng Pháp với khẩu hiệu đậm nét « Liberté, Egalité » (Tự do, Bình Đẳng), rồi sau đó người ta mới thêm vào chữ « Fraternité » (Bác Ái). Tất cả toát lên một vẻ cổ điển, tinh tế và lịch lãm.


Ngồi lặng một góc, bạn có thể lắng nghe thứ âm thanh nhỏ nhẹ như tiếng sáo nhịp nhàng. Một giai điệu của Mahler? Không phải đâu, là tiếng rít từ cái máy La Cimbali nổi tiếng của Ý chuyên để làm Expresso và Capuchino đấy. Nói thêm rằng Le Procope là nơi đầu tiên trên thế giới xuất hiện chiếc máy xay cà phê hạt thành bột. Cà phê của quán được nhập từ khắp nơi trên thế giới : Guatemala, Guyana, Nicaragua, Paraguay, Haiti.

Hãy thưởng thức các món ăn ngon miệng hay nhâm nhi cốc cà phê và chìm vào không gian lịch sử của Le Procope. Ông chủ Francesco Procopio Dei Coltelli người Ý đã cho mở cà phê Le Procope năm 1686 trên phố Fossés-Saint-Germain bên cạnh Nhà hát Kịch Pháp (sau đó phố đổi tên là Ancienne-Comédie khi Nhà hát dời đến quảng trường Palais-Royal). Nhờ vị trí như vậy mà Le Procope đã từng là nơi gặp gỡ của giới nghệ sĩ, trí thức, học giả, và cả chính trị gia thời bấy giờ từ La Fontaine đến Anatole France, Voltaire, Beaumarchais, Balzac… Ngoài thời gian làm việc trong Nhà hát Văn sĩ, Rousseau từng ngồi hàng giờ viết kịch trong một góc của quán, gặp gỡ đàm đạo với Boissi và một vài người khác. Nơi đây, ông cũng đã tổ chức ăn mừng thành công vở kịch « Le Devin du village » (Thầy bói làng) của mình. Còn Victor Hugo cũng nhắc tới Le Procope trong cuốn « Quatre-vingt treize » (Chín mươi ba) và những con người nổi tiếng gắn với sự kiện cách mạng Pháp 1789 như Marat, Danton, Robespierre. Chính trị gia Benjamin Franklin từng viết tại quán một vài khoản trong Hiến pháp Hoa Kì. Còn Verlaine thì say mê reo vần cho cuốn « La Bonne Chanson » (Bài hát hay) khi nhâm nhi ly rượu áp-xanh nơi này… Le Procope là một địa danh văn hóa nổi bật trong lịch sử Pháp, nơi hội tụ của tư tưởng, nghệ thuật, và cả những mưu toan chính trị. Ngày mùng 4 tháng 5 năm 1999, một dạ tiệc của các nhà thơ đã được tổ chức ở đây nhằm tưởng nhớ 100 năm ngày sinh của Maurice Carême, hoàng tử thi ca Pháp.


Những con người kiệt xuất ấy đều ít nhiều để lại một dấu ấn nào đó ở Le Procope. Nếu bạn để ý kỹ sẽ thấy chiếc mũ của hoàng đế Napoléon đặt ở bên trái của cửa chính ; những tài liệu tranh vẽ về Cách mạng Pháp đặt ở phía tường gần lối vào toa-lét ; bên cạnh quầy rượu là « Bản tuyên ngôn về nhân quyền »; rồi cả chiếc bàn của Voltaire, của Jean-Jacques Rousseau. Những xà ngang của trần nhà in các câu nói bất hủ. Tường ngoài mặt sau của quán người đi đường sẽ ấn tượng với chân dung của Robespierre, Benjamin Flanklin và Piron.

Le Procope gắn bó với ba thế kỉ lịch sử và đến nay quán cà phê - nhà hàng này được công nhận trở thành biểu tượng di sản nước Pháp.

Bài và ảnh : Đào Thu Hiền
Du học sinh tại Paris, IUT de Sceaux, Paris Sud 11

HOMEBREW RECIPE: COFFEE PORTER


HOMEBREW RECIPE: COFFEE PORTER
 
Ngày đăng tin - 5/5/2012 
More PorterAndy sent me this homebrew recipe after bringing a coffee porter to our homebrewing club. I lost it for a couple months but just discovered it again, thank goodness. It is a dark, rich porter, very malty, and with minimal bitterness, as you can see from the half ounce of bittering hops, boiled for only 45 minutes. The two-minute addition of Northern Brewer hops will impart a floral scent and the dry-hopping process will intensify this.
I am going to make this homebrew recipe soon but will deviate from Andys version, below. I plan to use a different coffee. Andy used a French style fine-ground coffee. It tasted great, but my coffee preferences lean toward a Vietnamese brand called Trung Nguyen, which you can find at your local Southeast Asian supermarket. The deep, rich flavor of this coffee will work well with the malty character of the porter. I might try another batch with something a little less refined, like coffee with chicory. You can try any coffee you like a lot and think will give you a good flavor.
This is our first recipe online that refers to dry hopping. This is the process of adding hops into the secondary fermenter to impart an interesting floral scent. the process is simple. First, let the beer completely ferment, and transfer it to a secondary fermenter. Then add your hops for dry-hopping. It might take a few days to a week to really get the hoppy flavor in there. People sometimes ask how you know when its done dry-hopping. I say, use a wine thief or pipette to draw out a sample and take a taste. If you want more hoppiness, let it stand a bit longer. If you think it is all right, your brew is done.
Ingredients:
Specialty grain:
1 lb Caramel Malt
5 oz Chocolate Malt
Extract:
6.6 lbs Amber Malt Extract
Hops:
0.5 oz Northern Brewer 45 min
0.25 oz Northern Brewer 2 min
Dry hop 0.25 oz Cascade and 0.5 oz Hallertaur
4 oz fine ground French roast grounds.  Added to boil for last 15 minutes.
Standard ale yeast, such as Nottingham Ale Yeast
Directions:
Steep the cracked specialty grains in two gallons of 155-degree water for 45 minutes. Remove the grain, rinse it with a gallon of water at 160 degrees, and turn up the heat. Discard or plan to reuse the grain. Turn up the heat and add the amber malt extract. Bring it to a boil. Boil this for 60 minutes, but dont add the hops until 15 minutes into the boil. Follow the schedule above for all the additions. Ferment for two weeks and then dry-hop for a week. Bottle or keg, and you have a great beer to bring to the next party you attend.

URL: http://realhomebrew.com/2012/04/26/homebrew-recipe-coffee-porter/